Xây dựng hành lang pháp lý cho Thực phẩm chức năng Việt Nam (13/04/2010)

Có thể chúng ta vẫn thường được nghe và đọc ở đâu đó những cụm từ như “hành lang pháp lý” hay “xây dựng hành lang pháp lý” với nhiều ngành như: xây dựng, xuất nhập khẩu,… Tuy nhiên đối với ngành Thực phẩm chức năng (TPCN) thì khái niệm này dường như còn khá mới mẻ. Để giúp Quý độc giả hiểu rõ hơn về vấn đề “Xây dựng hành lang pháp lý cho TPCN Việt Nam”, chúng tôi đã có cuộc trao đổi cùng Ông Nguyễn Xuân Hoàng – Phó viện trưởng Viện thực phẩm chức năng Việt Nam (VIDS).


PV: Thưa ông, xin ông cho biết thực trạng ngành sản xuất TPCN trước đây và hiện nay tại Việt Nam?

Ông Nguyễn Xuân Hoàng: TPCN được biết đến tại nước ta trong thời gian gần đây. Từ năm 1993, rất ít sản phẩm được lưu hành tại Việt Nam; mà chủ yếu trong số đó là sản phẩm của nước ngoài. Ngành TPCN thế giới đã bắt đầu phát triển từ những năm 40 của thế kỷ trước, Hoa Kỳ và Nhật Bản là những nước tiên phong trong ngành này. Trước đây do sự hiểu biết chưa đầy đủ của người tiêu dùng, của nhà quản lý và kể cả của nhà sản xuất kinh doanh nên TPCN chưa được chú ý phát triển tại Việt Nam. Hơn nữa dư luận xã hội cũng nhìn nhận TPCN chưa tích cực vì có một số công ty kinh doanh TPCN theo mô hình bán hàng trực tiếp (Direct sale hay Network marketing) vì lợi nhuận đã thổi phồng tác dụng của các sản phẩm trên và bán với giá đắt hơn nhiều so với giá trị thực tế. Những năm trước đây tỷ lệ TPCN sản xuất trong nước chiếm phần nhỏ hơn so với TPCN nhập khẩu nhưng gần đây các sản phẩm trong nước đã chiếm ưu thế hơn. Uớc tính đến cuối năm 2009 cả nước có khoảng 500 cơ sở sản xuất TPCN với trên 4000 loại sản phẩm TPCN, chủ yếu là các đơn vị sản xuất dược phẩm, cơ sở sản xuất thuốc y học cổ truyền chuyển sang. Các doanh nghiệp đi sâu và tập trung chuyên nghiên cứu và sản xuất TPCN như công ty IMC, công ty CP Sản xuất & Thương mại Hồng Bàng là rất ít.

Có nhiều lý do giải thích sự phát triển nhanh như vũ bão của ngành TPCN như : nhu cầu bảo vệ sức khỏe của cộng đồng, xu thế sử dụng các sản phẩm thiên nhiên, xu thế làm đẹp, mức sống nhân dân tăng… Ngoài ra, một lý do quan trọng nữa là sự chuyển hướng của các công ty sản xuất dược phẩm trong nước. Theo lộ trình của Cục quản lý dược tất cả các cơ sở sản xuất thuốc phải đạt GMP WHO (tiêu chuẩn sản xuất tốt theo Tổ chức Y tế thế giới). Tuy nhiên cũng có nhiều cơ sở vì lý do tài chính, thiếu nhân lực hay không có khả năng đầu tư nâng cấp thì sản xuất và kinh doanh TPCN là lối đi phù hợp nhất .

 

PV: Xin Ông cho biết những thuận lợi và khó khăn, thời cơ và thách thức trong vấn đề Xây dựng hành lang pháp lý cho Thực phẩm chức năng hiện nay ở Việt Nam? So sánh với một số nước khác trên thế giới?

Ông Nguyễn Xuân Hoàng: Xu hướng phát triển của TPCN và sản phẩm chức năng (SPCN- các dạng hỗ trợ điều trị không dùng qua đường thực quản) là xu thế không thể đảo ngược. Vấn đề là làm sao “hiểu đúng” để quản lý cho hiệu quả và tiết kiệm các nguồn lực xã hội . TPCN sở dĩ đi vào lòng dân, đi sâu vào cộng đồng bởi vì nó có lợi cho sức khỏe, hỗ trợ điều trị bệnh đặc biệt là bệnh mạn tính (ung thư, tim mạch, tiểu đường, thấp khớp, gút, hen suyễn, dị ứng, suy giảm miễn dịch…) mà các loại bệnh này đang gia tăng khó kiểm soát, đồng thời sử dụng không phải kê toa bác sỹ. Một thuận lợi nữa không thể không kể đến là trình độ khoa học công nghệ chế tạo, sản xuất của nước ta ngày càng hiện đại, thông tin sản phẩm ngày càng phong phú, nguồn nguyên liệu tự nhiên (động, thực vật, khoáng chất, công nghệ sinh học…) dùng làm TPCN ở Việt Nam rất đa dạng và kinh nghiệm về y học cổ truyền hàng ngàn năm lịch sử quý báu của cha ông ta đã góp phần hình thành ngành sản xuất quan trọng này. Hơn nữa TPCN mang thương hiệu China (cùng với nhiều sản phẩm khác) đang bị xói mòn niềm tin trên khắp thế giới. Đây là thời cơ vàng cho chúng ta. Nhưng vấn đề là làm sao biến thời cơ đó thành hiện thực? Chúng ta phải xây dựng được một nền công nghiệp TPCN hiện đại hùng mạnh. Muốn đạt được điều đó chúng ta cần xây dựng tiêu chuẩn cho TPCN. Hiện theo thông tư 08/2004 của Bộ Y Tế thì các tiêu chuẩn của TPCN tương tự như thực phẩm (các chỉ tiêu chủ yếu về tính an toàn vệ sinh thực phẩm như: độ nhiễm khuẩn, kim loại nặng, các hóa chất không được phép sử dụng..); các tiêu chuẩn kỹ thuật của dược phẩm , ví dụ như độ đồng đều khối lượng, độ rã của viên, độ cứng và đặc biệt cơ sở sản xuất phải đạt chuẩn. Việc xây dựng hành lang pháp lý cho TPCN hiện chủ yếu do cơ quan quản lý nhà nước đảm nhận với sự trợ giúp của nhiều lực lượng xã hội như Hiệp hội Thực phẩm Chức năng Việt Nam (VADS), Viện Thực phẩm Chức năng Việt Nam (VIDS) , Viện dinh dưỡng, Viện kiểm nghiệm thực phẩm. Theo Luật Tiêu chuẩn – Quy chuẩn quy định cơ quan chứng nhận tiêu chuẩn (hợp chuẩn) là các tổ chức kỹ thuật, xã hội nhưng do đặc thù của ngành TPCN rất mới nên việc thi hành chưa được chuẩn bị kỹ do đó cơ quản lý vẫn  phải trực tiếp đảm nhiệm.

Trong thời gian sắp tới, đáp ứng nhu cầu hội nhập và yêu cầu phát triển của ngành, mong rằng Việt Nam sẽ sớm xây dựng thành công hành lang pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý và phát triển ngành TPCN.

PV: Xin cảm ơn ông.

(Trích nguồn: Báo Khoa học và Đời sống)

 

Công ty Tư vấn Y dược Quốc tế (IMC – International Medical Consultants) là nhà sản xuất Thực phẩm chức năng cao cấp thương hiệu Việt hàng đầu tại Việt Nam với các dòng sản phẩm Thực phẩm chức năng và chăm sóc sức khỏe có nguồn gốc từ thiên nhiên độc đáo và được sự tin dùng của thị trường. Các sản phẩm Thực phẩm chức năng cao cấp do IMC sản xuất tiêu biểu như Nga Phụ Khang, Cốt Thoái Vương, Spacaps…..

Các bài mới
Các bài cũ