CÂU ĐẰNG

Tên khác: dây móc câu, dây dang quéo, móc ó, vuốt, co nam kho (Thái), pước cậu, nam lập câu (Tày), ghím tỉu (Dao).
Họ: Cà phê (Rubiaceae).


Mô tả
Cây nhỡ leo, cành non có thiết diện vuông góc, có rãnh dọc, khi già cứng có màu xám đen hay nâu đen. Lá có cuống ngắn, mọc đối, có lá kèm, ở kẽ lá có gai nhọn mọc cong xuống, cứ một mấu 2 gai lại xen một mấu một gai. Hoa tu họp thành hình cầu mọc đơn độc hoặc thành chùm ở kẽ là hoặc đầu cành; lá dài 5, ống ngắn, cánh hoa 5, ống tràng dài, nhị 5 đính ở họng tràng. Quả nang dài và dẹt chứa nhiều hạt có cánh.
Mùa hoa quả: tháng 3 – 7.
Nhiều loài câu đằng đã thu thập được và có những đặc điểm riêng khác biệt:
1.Uncaria tonkinensis Havil. (U. homomala Miq.).
Toàn cây có lông, lá màu nâu đỏ ở trên mặt, nâu nhạt ở mặt dưới. Gai dài 2cm. Cụm hoa hình đầu ở kẽ lá và đầu cành dài 2 – 3cm. Hoa vàng, quả dài 4mm.
2. Uncaria Pedicellata Roxb. Toàn cây có lông ngắn, màu gỉ sắt. Gai dài 2,5-3cm, khoẻ. Cụm hoa hình đầu ở kẽ lá và hình chuỳ ở đầu cành, dài 5-6cm. Hoa trắng, quả dài 1.5-2cm.
3. Uncaria Sessilifructus Roxb.Gai ngắn, cong nhiều. Cụm hoa rất dài, 40cm. Quả dài 8-12mm.
4. Uncaria acida (Hunt). Roxb. Lá có màu đỏ nâu. Gai dài 2-3cm. Cụm hoa đơn độc hình cầu ở kẽ lá; dài 2cm. Quả dài 13mm.
Loài Uncaria rhynchophylla (Miq) Jacks. Nhập nội cũng được dùng.

Phân bố sinh thái
Uncaria Schreb là một chi nhỏ trong họ Rubiaceae, gồm khoảng 50 loài, phần lớn là cây bụi hoặc cây bụi trườn, rất ít loài là cây gỗ nhỏ, tập chung chủ yếu ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới Châu Á. Ở Malaysia có hơn 10 loài, Ấn Độ có 6 loài…Bên cạnh công dụng làm thuốc có những loài như Uncaria gambier Roxb còn được trồng ở Malaysia để sản xuất “gambier” sử dụng trong công nghiệp thuộc da.
Ở Việt Nam có 10 loài thuộc chi này trong đó có 8 loài được sử dụng để làm thuốc.Uncaria tokinensis Havil được coi là loài đặc hữu Việt Nam. Nhìn chung tất cả các loài câu đằng đều thuộc nhóm cây bụi trườn, phân bố rải rác khắp các tỉnh miền núi. Càng vào các tỉnh phía Nam (từ Thanh Hoá trở vào), số lượng loài càng tậpchung nhiều hơn. Độ cao phân bố của chúng cũng thay đổi tuỳ loài, từ 200 cho đến hơn 1500m.
Các loài câu đằng là những cây ưa sáng, thường mọc thích hợp ở các kiểu rừng thứ sinh, ven rừng dọc theo các bờ suối hoặc trong các quần thể cây bụi trên đất sau nương rẫy. Cây sinh trưởng phát triển mạnh trong mùa mưa ẩm, có hoa quả vào cuối mùa thu. Quả già có thể tồn tại đến đầu mùa hoa năm sau. Tuy nhiên, chỉ có những cây không bị chặt phá thường xuyên mới có hoa quả. Cây được chiếu sáng đầy đủ có hoa quả nhiều hơn cây bị che bóng. Tất cả các loài đều có khả năng tái sinh cây chồi sau khi chặt.
Việt Nam có thể là một trung tâm đa dạng cao của các loài Câu Đằng. Số loài được sử dụng làm thuốc nhiều. Trước năm 1990, ngành y tế thường xuyên tổ chức khai thác thu mua Câu Đằng để làm thuốc, gần đây không thu mua nữa. Tuy nhiên vẫn cần chú ý bảo vệ các loài Câu Đằng. Cây bị chặt phá bừa bãi do nạn phá rừng làm rẫy.

Cách trồng
Câu Đằng đã được trồng ở các cơ sở nghiên cứu (Sapa, Tam Đảo, Văn Điển) thuộc viện dược liệu và các vườn thuốc quanh Hà Nội của quân đội và Viện y học cổ truyền Vĩnh Phúc.
Đất trồng Câu Đằng chỉ cần thoát nước, đủ ẩm, không bị úng ngập.
Câu Đằng có thể được nhân giống bằng hạt hoặc giâm cành. Thời vụ trồng vào tháng 9-10 hay tháng 2-3. Trồng bằng cách đào hố bên cạnh cây to, vừa để hạn chế bớt ánh nắng, vừa làm chỗ dựa cho cây. Hố đào sâu 50-60cm, rộng 60-70cm, lót phân truồng hay mùn giác mục trộn đều với đất, sau đó gieo hạt hoặc trồng cây giống, lấp đất, dận chặt và tưới nước. Thỉnh thoảng cần làm cỏ, xới xáo, vun gốc và bón thêm phân cho cây sinh trưởng.

Bộ phận dùng
Đoạn thân (mấu cành) có gai ở kẽ lá, cong như lưỡi câu cứng của cây câu đằng, thu hái vào hè thu rồi phơi hay sấy khô. Từng đoạn thân dùng không quá 3cm. Nên dùng đoạn bánh tẻ, tác dụng tốt hơn đoạn già. Gai dài chừng 2cm. Đoạn thân có 2 gai tác dụng tốt hơn đoạn thân có 1 gai. Không dùng đoạn thân không có gai.
Dược điển Trung Quốc 1997 (bản in tiếng Anh) công nhận các loài Uncaria rhynchophylla, U. macrophylla, U. hirsuta, U. sinensis, U. sessilifructus. Dược điển Việt Nam I, tập 2 năm 1983 cho phép dùng một số loài thuộc chi Uncaria.

Thành phần hoá học
Thành phần chính là alcaloid. Thân và rễ câu đằng U. rhynchophylla chứa 0,041% alcaloid toàn phần, trong đó rhynchophylin chứa 28,9% và isorhynchophylin chứa 14,7% (Lâm Khải Thọ 1977).
Alcaloid được phân bố trong các bộ phận của U. rhynchophylla như sau:
- Móc, thân và lá: rhynchophylin, isorhynchophylin, corynoxein, isocorynoxein.
- Thân, lá: geissochizin, valesiachotamin, akumigin, rhynchophin.
- Vỏ, thân, cành: hirsutin, hirsutein.
- Gỗ: corynanthein, dihydrocorynanthein.
Các loại alcaloid trên được sắp xếp theo các nhóm hoá học.
- Nhóm oxindol: rhynchophylin, isorhynchophylin, corynoxein, isocorynoxein.
- Nhóm corynan: corynanthein, dihydrocorynanthein, hirsutein, hirsutin.
- Nhóm oxayohimban: akumigin, strictosamid, rhynchophin.

Tác dụng dược lý
1. Tác dụng hạ huyết áp.
Nước sắc Câu Đằng trên thỏ gây mê với liều 2-3g/kg tiêm tĩnh mạch, trên chó gây mê với liều 0,5g/kg tiêm tĩnh mạch và trên chuột cống trắng bằng đường uống với liều 5,0g/kg đều có tác dụng hạ HA rõ rệt. Theo tập quán kinh nghiệm, nhân dân thường dùng móc câu đằng làm thuốc, nhưng trên thực nghiệm chứng tỏ tác dụng hạ HA của thân và cành câu đằng không khác gì móc câu đằng. Trên mèo gây mê, alcaloid toàn phần của móc câu đằng với liều 200mg/kg hoặc hoạt chất rhynchophylin với liều 20mg/kg tiêm tĩnh mạch cũng như trên chuột cống trắng gây cao HA thực nghiệm, alcaloid toàn phần dùng bằng đường uống với liều 50mg/kg hoặc rhtynchophylin dùng tiêm phúc mạc với liều 20mg/kg đều thể hiện tác dụng hạ HA rõ rệt.
Dạng chiết bằng ethanol từ câu đằng tiêm tĩnh mạch cho chuột cống trắng với liều 0.1mg/kg có tác dụng hạ HA khá mạnh và kéo dài. Vị trí tác dụng của câu đằng trong cơ thể rất rộng, cơ chế hạ HA của câu đằng có tác dụng liên quan đến thần kinh trung ương, thần kinh ngoại vi và hệ tim mạch.Qua nghiên cứu huyết động học cho thấy tác dụng hạ HA của câu đằng ở giai đoạn đầu chủ yếu là do chủ kháng ngoại vi giảm, và tiếp sau đó là do lượng máu từ tim đẩy ra giảm hẳn. Nghiên cứu trên mèo và chó gây mê, chứng tỏ tác dụng của hoạt chất rhynchophylin đối với HA, nhịp tim và trở kháng ngoại vì đều giống như tác dụng của alcaloid toàn phần và đã chứng minh rằng tác dụng hạ HA của rhynchophylin là kết quả của công năng tim giảm với sự giãn mạch máu ngoại vi.
2. Tác dụng chống loạn nhịp tim: Alcaloid toàn phần của câu đằng tiêm tĩnh mạch cho chuột cống trắng với các liều 15mg/kg, 10mg/kg, 15mg/kg tương ứng với 3 mô hình rối loạn nhịp tim do aconitin, calciclorua, cloruabari gây nên đều có tác dụng chống loạn nhịp tim rõ rệt.
3. Tác dụng an thần: nước sắc câu đằng trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm phúc mạc với liều 0.1g/kg thể hiện tác dụng an thần rõ rệt nhưng không có tác dụng gây ngủ.
4. Tác dụng đối với hệ cơ trơn: nước sắc câu đằng với nồng độ 17mg/kg có thể làm giảm trương lực hồi trường cô lập chuột, đối kháng với tác dụng co bóp của histamin, alcaloid toàn phần của câu đằng bằng đường tiêm xoang bụng với liều 10mg/kg và bằng đường uống với liều 40mg/kg có tỷ lệ ức chế co thắt phế quản là 61,5% và 60% (P<0,01).
Độc tính.
+ Độc tính cấp: nước sắc câu đằng trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm phúc mạc có LD50 = 29,0 ± 0,8g/kg, còn alcaloid toàn phần bằng đường uống có LD50 =514,6 ± 21,9mg/kg bằng đường tiêm phúc mạc có LD50 =144,2 ± 3,1mg/kg còn rhynchophylin bằng đường tiêm phúc mạc có LD50 = 162,3mg/kg.
+ Độc tính bán cấp: trên chuột cống trắng còn non, alcaloid toàn
phần của câu đằng bằng đường uống với liều dùng 50mg/kg, mỗi ngày một lần dùng liên tiếp trong 14 ngày, không phát hiện thấy những biến đổi bệnh lý của các phủ tạng của súc vật thí nghiệm.

Tính vị công năng
Câu đằng có vị ngọt, tính mát vào các kinh tâm, can, có tác dụng thanh nhiệt, bình can, tức phong, định kinh.

Công dụng
Câu đằng chữa kinh giật ở trẻ em, người lớn HA cao, đau đầu, chóng mặt, trúng phong.
Liều dùng: 4,0 – 9,0g sắc nước uống. Có thể dùng dạng bột.
Chú ý: không nên sắc câu đằng quá lâu, đợi khi sắc các vị khác gần được mới cho câu đằng vào để cho sôi 1-2 trào là được.
Bài thuốc có câu đằng.
1. Chữa đau đầu chóng mặt do HA cao.
Câu đằng, cúc hoa, phòng phong, đảng sâm, phục thần, phục linh, trần bì, mạch môn; mỗi vị 15g, thạch cao 30g; cam thảo 7,5g. Tất cả nghiền thành bột, mỗi lần dùng 12g sắc nước uống bỏ bã.
2. Chữa cao HA.
Câu đằng 12g, tang diệp, cúc hoa, hạ khô thảo mỗi thứ 9g sắc nước uống. Hoặc câu đằng, thạch quyết minh mỗi thứ 15g, đỗ trọng 9g, hoàng cầm 6g, ích mẫu, hạ khô thảo mỗi thứ 12g sắc nước uống.
3. Chữa sốt kinh phong, chân tay co giật ở trẻ em.
Câu đằng 10-15g, kim ngân hoa 9g, bạc hà 3g, cúc hoa 6g, địa long 6g sắc nước uống.
4. Chữa trúng phong.
Câu đằng 30g, hàng bạch thược, địa long mỗi thứ 15g, trân châu mẫu 90g, sinh đại hoàng 9g, nước trúc lịch 45ml. Ngày uống 2 thang ở giai đoạn cấp tính và 1 thang ở giai đoạn phục hồi.
5. Chữa liệt thần kinh mặt (VII):
Câu đằng 60g, dây hà thủ ô tươi1120g sắc nước uống.

Nguồn “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở VN” tr 358 tập 1.
Các bài mới
Các bài cũ