ĐƯƠNG QUY

Tên khác: Tần quy, can quy.
Họ: Hoa tán (Apiaceae).


Mô tả
1. Đương quy Trung Quốc (Angelica Sinensis (Oliv) Diels).
Cây thảo lớn, sống lâu năm, cao 40 – 60 cm, có thể đến 1m, khi cây có hoa. Thân hình trụ, có rãnh dọc, màu tím. Lá mọc so le, xẻ lông chim 3 lần, gốc phát triển thành bẹ to, đầu nhọn, lá chét phía dưới có cuống, lá chét gần đầu lá không cuống, mép chia thuỳ và răng cưa không đều.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân thành tán kép gồm 12 – 20 tán, dài ngán không đều; hoa nhỏ màu lục nhạt.
Quả bế dẹt, có rìa màu tím nhạt.
Toàn thân nhẵn và có mùi thơm đặc biệt.
Mùa hoa quả: tháng 7 – 8.
2. Đương quy Nhật Bản ( Angelica Augelica Acutiloba (Sieb. Et Zucc) Kitagawa).
Cây thảo lớn, sống nhiều năm, cao 40 – 80cm, không lông. Lá mọc so le, ở phía dưới cơ cuống dài 10 – 30 cm, gốc có bẹ ngắn dạng máng, xẻ lông chim 1 – 2 lần, lá chét phân thuỳ hình mác dài 2 – 7cm, rộng 1 – 3cm, có cuống ngắn hoặc không cuống; các thuỳ lại phân nho, gốc hình nêm, đầu nhọn, mép có răng to sắc; lá ở phía ngọn tiêu giảm.
Cụm hoa là tán kép, có cuống dài 5 – 20 cm gồm 25 – 40tán; tổng bao và tiểu bao giống nhau có lá bắc dạng sợi; hoa nhỏ màu trắng lục nhạt; dài không có răng, tràng 5 cáng lõm ở đầu; nhị 5, bầu hình chóp ngược, có gân lồi.
Quả bế đôi, hơi dẹt, có cạnh và gân lồi, gân ở mép rộng dạng cánh.

Phân bố, sinh thái
Chi Angelica L. có khoảng 70 loài, phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới Bắc bán cầu và New Zealand.
Việt Nam đã 3 lần nhập giống Đương quy của Trung Quốc (khoảng giữa năm 60); Triều Tiên (1978) và gần đây là của Nhật Bản (1996). Giống Đương quy nhập từ Trung Quốc hiện không còn, hai giống còn lại vẫn đang được trồng ở các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, xung quanh Hà Nội. Theo Nguyễn Chiều và Lê Kim Loan (1999) 2 giống Đương quy này đều thuộc một loài A.Acutiloba (Sieb, Et Zucc.) Kitagawa.
Nhìn chung các giống Đương quy đều có nguồn gốc ở vùng ôn đới. Cây được đưa vào trồng từ lâu ở Trung Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Cây ưa khí hậu ẩm mát, đến mùa đông toàn bộ phần mặt trên đất tàn lụi, phần củ dưới mặt đất chiu đựng được băng tuyết và mọc lại vào mùa xuân năm sau.
Đương quy trồng ở Việt Nam thường cũng phải lựa chọn thời vụ, sao cho mùa gieo hạt và sinh trượg của cây trùng với thời gian có nhiệt độ thấp trong năm. Cây trồng ở vùng đồng bằng ra hoa quả sớm hơn ở vùng núi cao (trên 1500m), nhưng hạt giống này không được dùng để sản xuất dược liệu. Đó là những đặc điểm về mặt sinh học cần lưu ý khi lựa chọn vùng trồng Đương quy thích hợp ở Việt Nam.

Cách trồng
Đương quy được gieo trồng từ hạt. Hạt giống cần được sản xuất ở vùng núi cao, thu hồi từ cành cấp 1 và 2 của cây 2 năm tuổi, lúc có màu xanh chuyển sang màu vàng sẫm. Hạt được phơi hoặc sấy ở nhiệt độ 40 – 450C tới độ ẩm 5 – 7% và bảo quản trong bao bì kín ở nhiệt độ 10 – 250C, có thể giữ được 6 tháng. Nếu trồng bằng hạt giống của cây 1 năm tuổi, cây sẽ ra hoa sớm ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng rễ củ.
Hạt Đương quy có thể gieo thẳng, gieo trong vườn ươm hoặc gieo trong bầu. Gieo trong bầu có nhiều ưu điểm hơn cả. Đất gieo hạt cần được chuẩn bị kỹ. Hạt được ngâm trước một đêm, vớt ra để ráo, trộn với cát hoặc đất bột để gieo cho đều. Môi sào vườn ươm (360m2) có thể gieo 1 kg hạt, gieo thẳng cần 200g, gieo bầu mỗi bầu 5 – 7 hạt. Gieo xong phủ rơm, rạ, cỏ khô và tưới nước hàng ngày. Ở nhiệt độ 18 – 230C, đủ ẩm, hạt giống bắt đầu nảy mầm sau 12 – 15 ngày, và mọc rộ sau 20 – 21 ngày. Thời vụ gieo hạt kéo dài từ 25/9 đến 10/10. Hạt tốt có thể nảy mầm 65 – 75%.
Khi cây con có 4 – 5 lá thật, tiến hành tỉa định cây. Khoảng cách trồng Đương quy thường là 20 x 15 hoặc 20 x 20 cm. Khi tỉa cây ở vường ươm, người ta thường giữ lại cây với khoảng cách như trên để thu dược liệu. Ruộng gieo thẳng cần được bón phân lót rồi mới gieo theo rạch (cách nhau 20cm) hoặc gieo vãi. Gieo bầu, mỗi bầu chỉ để lại một cây. Cây tỉa ra được đem đi trồng ở ruộng khác.
Đất trồng Đương quy tốt nhất là đất trồng màu, đất ruộng cao, nhiều mùn, tơi xốp và rai nắng. Đất cần làm tơi nhỏ, để ải, lên xuống cao 30 – 35cm, mặt luống rộng 60 – 70cm. Mỗi Hecta bón lót 25 – 30 tấn phân chuồng hoai và 300 – 500 kg Supe Lân. Phân có thể trộn đều với đất hoặc vùi cách mặt luống 10 – 15 cm.
Sau khi trồng, cần thường xuyên giữ ẩm và làm cỏ kịp thời. Cứ 20 – 25 ngày lại bón thúc một lần, ngừng trước khi thu họach từ 1 đến 1,5 tháng. Mỗc Hecta bón thúc 450 – 550 kg Urê, 250 – 300kg Kali, chia đều làm 7 – 8lần để tưới. Ngoài ra, có thể dùng tro, nước phân, nước giải pha loãng, liều lượng không hạn chế.
Đương quy ít bị sâu bệnh, trừ rệp và các loại sâu ăn lá. Khi củ lớn, cần chủ ý chống úng, thoát nước tránh thối củ. Ở đồng bằng, sau 8 – 9 tháng tuổi, ở miền núi sau 11 – 12 tháng tuổi, có thể thu hoặch cả Đương quy .
Một Hecta có thể đạt được 2 – 2,5 tấn củ khô.
Nếu thu hạt giống, cần để 2 năm. Sau khi thu hạt, củ vẫn có thể được tận dụng để làm thuốc.

Bộ phận dùng
Rễ Đương quy trồng được 3 tuổi, đào vào mùa thu, cắt bỏ rễ con, bó thành bó nhỏ, xếp lên giá, đốt xông nóng (không được đốt trực tiếp), cho đến khi dược liệu có màu đỏ tươi hay màu vàng kim tuyến, rồi sấy than. Theo kinh nghiệm nhân dân Trung Quốc, không phơi chỗ râm mát (Đương quy có màu xanh) và cũng không phơi nắng (mất tinh dầu).
Đương quy được phân thành nhiều loại: quy đầu gồm phần đầu của rễ chính, đường kính 1,5 – 4cm, đầu tù và tròn, còn mang vết tích của lá; quy thân là rễ đã loại bỏ phần đầu và đuôi; quy vĩ là phần rễ phụ hay rễ nhánh, đường kính 0,3 – 1cm và toàn quy gồm cả rễ cái và rễ phụ.
Rễ to, thịt chắc, dẻo màu trắng hồng, nhiều tinh dầu, có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt sau cay, là loại tốt.

Tác dụng dược lý
Đương quy Nhật Bản di thực trồng ở Việt Nam có tác dụng:
1. Có hoạt tính trên chức năng nội tiết sinh dục động vật cái, gây tác dụng kiểu Oestrogen và Progesteron yếu.
2. Rễ và lá có tác dụng hướng sinh dục yếu trên Chuột cống trắng cái non, tác dụng này không ổn định. Dược liệu không có tác dụng hướng sinh dục trên Chuột cống đực non.
3. Rễ và hạt gây tăng trương lực và biên độ co bóp tử cung cô lập và tại chỗ của động vật thí nghiệm. Liều 0,2 g rễ và 0,4 g hạt Đương quy tăng biên độ co bóp tử cung cô lập Chuột lang tương đương 0,1 đơn vị Pituitrin.
4. Rễ có tác dụng tăng lực rõ rệt trong thí nghiệm Chuột nhắt trắng bơi gắng sức.
5. Rễ có tác dụng tăng sức đề kháng cơ thể động vật trong thí nghiệm gây độc với Ammoni Clorid một cách rõ rệt.
6. Rễ có tác dụng chống viêm đối với cả hai giai đoạn cấp tính và mãn tính của phản ứng viêm thực nghiệm và không có tác dụng gây thu teo tuyến ức Chuột non. Như vậy, Đương quy có đặc điểm tác dụng chống viêm tương tự các thuốc chống viêm phi Steroid, tác dụng chống viêm không kèm theo tác dụng ức chế miệc dịch.
7. Độc tính cấp tính của rễ và hat Đương quy rất thấp. Rễ có độc tính cấp tính thấp hơn so với hạt.
Bài thuốc Tứ vật trong có Đương quy Trung Quốc đã được nghiên cứu trên bệnh thiếu máu thực nghiệm gây bằng Acetat chì, có tác dụng làm tăng số lượng hồng cầu và tỷ lệ huyết sắc tố của động vật gây thiếu máu.
Đương quy Trung Quốc có tác dụng ức chế sự co thắt cơ trơn ruột cô lập gây bởi Acetylcholin và Hisramin và có khả năng bảo vệ hệ thống miễn dịch đối với những bệnh nhân ung thư vòm họng đang điều trị bằng tia xạ. Nó làm tăng số lượng tế bào Lympho T nói chung và số lượng tế bào Lympho T hoạt động, đồng thời làm phục hồi khả năng tạo hoa hồng của tế bào Lympho T bị ức chế bởi Theophylin. Dược liệu làm tăng sức đề kháng của cơ thể bệnh nhân, tăng chất lượng của hồng cầu và hạn chế sự giảm tỷ lệ huyết sắc tố.
Rễ của Đương quy Trung Quốc có 2 thành phần: Một thành phần kích thích tử cung, và một thành phần ức chế tử cung. Thành phần ức chế chủ yếu là tinh dầu. Thành phần kích thích không phải tinh dầu vf tan trong nước hoặc cồn. Trên Chuột nhắt trắng được nuôi với thức ăn có 5% Đương quy trong 4 tuần thấy ở tổ chức gan, lượng tiêu thụ Oxy tăng và năng lực sử dụng Glucose của tử cung tăng, nhưng lượng AND tăng rõ rệt, do đó Đương quy có tác dụng gây tăng sinh tử cung.
Cao nước Đương quy hoặc dạng chiết với Ether tác dụng trên tâm nhic Thỏ cô lập, kéo dài giai đoạn trơ, do đó gây thực nghiệm bởi Acetylcholin hoặc kích thích điện, và đối kháng với hoạt tính gây tăng nhanh nhip tim của cà độc dược. Nước sắc hoặc cao cồn Đương quy tiêm tĩnh mạch cho động vật gây mê có tác dụng hạ huyết áp. Có ý kiện cho rằng thành phần tinh dầu làm tăng huyết áp, thành phần không tinh dầu làm hạ huyết áp. Nước sắc và dạng chiết bằng Ether của Đương quy có tác dụng gây trấn tĩnh. Đương quy cho vào thức ăn của Chuột với tỷ lệ 5 – 6% có tác dụng phục hồi do thiếu Vitamin E. Đương quy chứa Vitamin B12 và Acid Folic, nên có tác dụng chống thiếu máu ác tính. Thử với phương pháp hệ nống độ cho thấy Đương quy có tác dụng ức chế trực khuẩn dịch hạch ở nồng độ 1:160 và Shigella Shigae ở nồng độ 1: 80. Các trực khuẩn thương hàn và phó thương hàn, phẩy khuẩn tả cũng bị ức chế ở nồng độ 1: 80. Nồng độ 1:120 ức chế phế cầu khuẩn.
Cao nước Đương quy có tác dụng ức chế sự ngưng tập tiểu cầu Chuộ cống trắng trong ống nghiệm cũng như khi tiêm tĩnh mạch cho Chuột, và ức chế sự giải phóng Serotonin từ tiểu cầu Chuột cống gây bởi Thrombin.
Hiệu quả của Đương quy trong điều trị huyết khối não và viêm tắc tĩnh mạch huyết khối có thể có liên quan với tác dụng ức chế sự ngưng tập tiểu cầu và giải phóng Serotonin từ tiểu cầu.
Một bài thuốc gồm Đương quy, sinh địa, hà thủ ô đỏ, quả ích mẫu được thông báo có tác dụng kích thích nang trứng.
Nhiều nghiên cứu cơ bản đã chứng minh có mối liên quan giữa công năng tăng cương tuần hoàn não và điều trị ứ trệ máu của Đương quy theo y học cổ truyền với việc điều trị những bệnh chẩn đoán theo tây y như bệnh tim mạch, bệnh viêm mạch tạo huyết khối nghẽn, và nghẽ mạch não. Đương quy (cao cồn) có hoạt tính chống loạn nhịp; Đương quy làm tăng hoạt tính thực bào của đại thực bào trên trên thực nghiệm.
Một thành phần chủ yếu khác (Ligustilid) phân lập từ rễ Đương quy Trung Quốc có tác dụng chống hen và phản ứng hen gây bởi Acetylcholin và Histamin trên Chuột lang. Ligustilid có tác dụng chống co thắt trên khí quản cô lập Chuột lang được gây co thắt bởi Acetylcholin, Histamin hoặc Bari Clorid, và gây gian khí quản không co thắt.
Đã chứng minh Phthalid là thành phân chống hen chính của những dẫn chất Phthalid của Đương quy Trung Quốc. Tác dụng gây giãn cơ trơn của các Phthalid không liên quan với thụ thể Beta – Adrenergic và không bị ảnh hưởng bởi kích thích giải phóng chất trung gian từ hệ thần kinh giao cảm. Các Phthalid có tác dụng ức chế mạnh co thắt cơ khí quản gây bởi Acetylcholin và Histamin, những tác dụng này không liên quan với các thu thể đáp ứng với Histamin và Acetylcholin. Phathlid có hoạt động đối kháng nhanh và mạnh đối với tác dụng của Bari Clorid gây co cơ trơn khí quản, gợi ý rằng Phthalid gây giãn cơ trơn khí quản do tác dụng trực tiếp trên cơ quan.
Đương quy Nhật Bản có tác dụng gây trấn tĩnh, kéo dài thời gian ngủ gây bởi thuốc ngủ; giảm đau đói với cơn đau quặn đau gây bằng tiêm màng bụng Acid Acetic; giải nhiệt, chống viêm, làm giảm khả năng đông màu; điều kinh, nhuận tràng; và kích thích miễn dịch, gây hoạt hoá Lymphô bào B và T, làm tăng sản sinh kháng thể. Những phân đoạn Polysacarid từ Đương quy Trung Quốc và Đương quy Nhật Bản được nghiên cứu về tác dụng chống bổ thể, hoạt tính sản sinh Interferon và hoạt tính tạo phân bào. Phân đoạn Polysacarid của rễ Đương quy Nhật Bản có những tác dụng nêu trên mạnh nhất; phân đoạn Polysacarid của rễ Đương quy Trung Quốc có hoạt tính kém hơn, trừ hoạt tính sản sinh Iterforon. Những phân đoạn Polysacarid có hoạt tính mạnh hơn chứa lượng Arabinose nhiều hơn; những phân đoạn Polysacaris có hoạt tính thấp hơn chứa lượng Arabinose ít hơn.
Một bài thuốc cổ truyền Trung Quốc gồm 10 vị được dùng cho bệnh nhân trong giai đoạn hồi phục sau khi phẫu thuật, hoặc có bệnh mạn tính để điều trị thể trạng suy yếu. Hai vị trong bài thuốc này là Đương quy Nhật Bản và nhân sâm, được thử nghiệm dưới dạng cao chiết với nước nóng, đã thể hiện hoạt tính điều hoà miễn dịch.

Tinh vị, công năng
Đương quy có vị ngọt hơi đắng, hơi cay, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng bổ huyết, hoạt huyết, điều kinh, thông kinh, dưỡng gân, tiêu sưng, nhuận tràng.

Công dụng
Đương quy là một vị thuốc dùng rất phổ biến trong đông y, là đầu vị trong thuốc chữa bệnh phụ nữ, đồng thời được chỉ định trong nhiều đơn thuốc bổ và trị bệnh như thuốc chữa thiều máu xanh xao, đau đầu, cơ thể gầy yếu, suy tim, mệt mỏi, đau lưng, đau ngực bụng, viêm khớp, chân tay đau nhức lạnh, tê bại, tê liệt, đạu tiện táo bón, mụn nhọt lở ngứa, tổn thương ứ huyết, kinh nguyệt không đêu, đau kinh, bế kinh (uống trước khi thấy kinh 7 ngày). Ngày uống 10 – 20g, dạng thuốc sắc hoặc rượu thuốc.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản, Đương quy được dùng điều trị kinh nguyệt không đều, huyết ứ trệ, đau kinh, bể kinh, sa tử cung, chảy máu, phong thấp, mụn nhọt, táo bón, hói đầu, thiếu máu, lao phổi, tăng huyết áp, ung the và làm thuốc giảm đau, chống co giật, làm ra mồ hôi, kích thích ăn ngon cơm. Phụ nữ uống nước sắc Đương quy vài ngày trước cho tới khi đẻ sẽ đẻ dễ, làm giảm đau khi đẻ.

Nguồn “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam” tr 833 tập I.
Các bài mới
Các bài cũ