Tên đồng nghĩa: Eclipta alba (L.) Hassk., E. erecta L.
Tên khác: Cỏ mực, hạn liên thảo, lệ trường, phong trường, mạy mỏ lắc nà (Tày), nhả cha chát (Thái).
Tên nước ngoài: Dyer’s weed, dye-weed, white eclipta (Anh); ecslipte droite (Pháp).
Họ: Cúc (Asteraceae).
Mô tả
Cây thảo, mọc đứng, đôi khi bò lan rồi vươn thẳng, cao 30-40cm, có khi hơn. Thân tròn, có lông cứng áp sát, màu lục hoặc đỏ tía. Lá mọc đối, hình mác, dài 2-8cm, rộng 0,5-1,5cm, gốc thuôn, đầu nhọn, mép khía răng rất nhỏ, hai mặt có lông nháp, cuống lá rất ngắn.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân hoặc kẽ lá thành đầu, cuống dài 1-4cm, có lông thô áp sát; đầu có đường kính 0,8-1,2cm, lá bắc thuôn nhọn, có lông, hao màu trắng, hoa cái ở ngoài, hình lưỡi, xếp thành một hàng, hoa lưỡng tính ở trong hình ống, mào lông giảm thành vảy nhỏ và ngắn, tràng hoa cái có lưỡi nguyên hoặc xẻ 2 răng, tràng hoa lưỡng tính có 4 thùy hình trái xoan, nhị 4.
Quả bế, dài 3mm, rộng 1,5mm, có 3 cạnh, hơi dẹt, đầu bẹt, có 2 sừng nhỏ.
Mùa hoa quả: tháng 2-5.
Cây rất đa dạng. Thân có thể thắt lại ở mấu và phình ra ở dóng. Lá có khi to bản, hình bầu dục hoặc hình trứng.
Bộ phận dùng
Toàn bộ phần trên mặt đất thu hái trước khi cây ra hoa, phơi khô. Khi dùng, rửa sạch, loại bỏ tạp chất, cắt đoạn 3-5 cm, rồi sao qua hoặc sao cháy. Nếu sao cháy, dùng lửa to sao nhanh đến khi bên ngoài cây có màu đen thì phun ít nước để trừ hỏa độc. Để nguội.
Thành phần hóa học
Nhọ nồi chứa các dẫn chất thiophen như dithienyl acetylen ester (I. R = R1 = isovalery, I = R = isovalery R1 = senecionyl; I. R = isovalery, R1 = tigloyl) và nhiều dẫn xuất thienyl khác như α terthienyl, α terthienyl methanol; [(2 buta - 1 - 3 - diynyl) - 5- but (3 en - 1 ynyl) thiophen]2 [2 buta 1 - 3 - diynyl) - 5 - (4 cloro - 3- hydroxy but - 1 - ynyl) thiophen] 2.
[5 - (3 buten 1 - ynyl) 2 - 2’ bithienyl - 5 methyl] acetat; α formyl - α terthienyl.
(Singh Pahup. CA. 110, 1989, 228600 w; Trung dược từ hải III. 1501).
Toàn cây nhọ nồi còn chứa terthienyl aldehyd ecliptal (Das Binayak, Chakravarty _ CA. 116, 1992, 1027094).
Bộ phận hoạt chất có tác dụng bảo vệ gan trong nhọ nồi là một dẫn chất coumestan là wedelolacton, stigmasterol và sitosterol bên cạnh chất demethyl wedelolacton.
(Das Nilamadhab, Bhavsar G.C, CA. 114, 1991, 182038w).
Các Glucosid với bộ khung olean là eclata saponin I - IV đã được phân lập từ nhọ nồi với cấu trúc được xác định là glucosid của acid echinocystic (Yahara, Shipji, Ding Ning, Nohara toshihiro; CA, 121, 1994, 25122 k).
Gần đây Zang, Mei Chung Yayan lại chiết được 2 triterpen glycosid là eclipta saponin B (II) cùng với các acid echiptasaponin và oleanolic. Cấu trúc của ecliptasaponin (I) được xác định là 3β, 16α dihydro olean - 12 - 28 - oic acid - 3β - O - β - D. glucopyranosid và ecliptasaponin (II) là 3β - O [β - D - glucopyranosyl (1→4) - β - D - glucopyranosyl - 16α hydroxyl olean 12 en 28 oic acid - 28 - O - β - D - glucopyranosid. (CA. 126, 1997, 87067u).
Một glucosid triterpeoid mới cũng được các tác giả trên phân lập là eclipta saponin C cùng với daucosterol và stigmasterol - 3 - O - glucosid. Cấu trúc của saponin C này là 3β - O - β - D - glucopyranosyl - 19β - hydroxyl olean - 12 - en - 18. oic acid - 28 - O - β - D - glucopyranosid. (CA. 126, 1997, 303681j).
Nhọ nồi còn chứa tanin, tinh dầu, chất đắng và một lượng nhỏ các alcaloid như nicotin 0,078% (theo trọng lượng khô) ecliptin… Hàm lượng các alcaloid trong cây tăng lên đến 8,28% khi xử lý với 0,5% ethylenimin (so sánh với lô không xử lý) (Hassk Agarwal… CA. 108, 1988, 33561 k).
Tác dụng dược lý
Nhọ nồi có tác dụng cầm máu do làm tăng tổng lượng prothrombin trong máu, giống như cơ chế tác dụng của vitamin K. Hoạt tính cầm máu của 1g bột nhọ nồi khô tương đương 1,33mg vitamin K.
- Khi dùng dài ngày, có tác dụng chống choáng phản vệ, kháng histamin và giảm viêm. Khác với các thuốc kháng histamin tổng hợp, nhọ nồi không kháng được tác dụng của histamin liều cao, gây choáng và chết.
- Có tác dụng ức chế các chủng vi khuẩn: liên cầu, tụ cầu khuẩn vàng, trực khuẩn bạch hầu, Bacillus anthracis, Bacillus subtilis.
- Có độc tính rất thấp, có giới hạn an toàn rộng.
Các chế phẩm siro và viên nén bào chế từ cao nhọ nồi đãđược áp dụng cho 500 bệnh nhân và theo dõi kết quả điều trị tại bệnh viện và nhà hộ sinh cho thấy các tác dụng sau:
- Cầm máu tốt và trong vài trường hợp cá biệt, tác dụng này của nhọ nồi thể hiện rõ rệt hơn cả tác dụng của vitamin K.
- Nâng cao tổng lượng prothrombin máu rõ rệt trong các trường hợp suy gan.
- Chống viêm nhiễm trong các trường hợp cảm sốt, cúm, nhiễm khuẩn đường hô hấp thể cấp tính nhẹ và trung bình, mụn nhọt, viêm cơ.
- Đề phòng nhiễm khuẩn sau khi mổ ổ bụng, mổ cắt ruột thừa, đặt vòng, nạo thai.
- Chóng làm lành các vết cắn, vết mổ trong các phẫu thuật, làm đóng giả mạc sớm và tốt trong các trường hợp cắt amidan, làm chóng khô và không ụ máu ở các vết mổ ở bụng.
- Không có biểu hiện độc khi dùng liều hàng ngày 40-100g tươi trong 15 ngày liền.
Tính vị, công năng
Nhọ nồi có vị ngọt chua, mặn, tính mát, có tác dụng bổ thận, mạnh xương, đen tóc, mát huyết, cầm máu, giải độc.
Công dụng
Nhọ nồi thường được dùng làm thuốc bổ máu, cầm máu bên trong và bên ngoài, chữa ho ra máu, lỵ ra máu, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam. Còn dùng chữa ban sởi, ho, hen, viêm họng, bỏng, lao phổi, di mộng tinh, bệnh nấm ở da, làm thuốc mọc tóc (sắc uống hoặc ngâm vào dầu dừa mà bôi) và nhuộm tóc.
Mỗi ngày dùng 20g cây khô, dưới dạng thuốc sắc uống. Dùng tươi 30-50g, giã vắt lấy nước uống, còn bã đắp vết thương.
Trong y học cổ truyền Trung Quốc, nhọ nồi được dùng làm thuốc bổ toàn thân và cầm máu, có trong thành phần thuốc mỡ để điều trị một số bệnh của da. Liều dùng một lần: 4-6g, dạng thuốc sắc uống.
Ở Ấn Độ, nhọ nồi được dùng làm thuốc bổ và chữa ứ tắc trong các bệnh phì đại gan và lách, và chữa một số bệnh về da. Dịch ép cây được dùng phối hợp với một số chất thơm để chữa vàng da xuất tiết. Dịch ép lá cây được dùng cùng với mật ong để chữa sổ mũi ở trẻ nhỏ. Một chế phẩm làm từ dịch ép lá nhọ nồi đun nóng với dầu dừa hoặc dầu vừng được dùng để bôi dầu làm tóc mọc dầy và đen. Cây tươi có tác dụng giảm đau và thấm hút. Nó được trộn với gôm để chữa đau răng và đắp với một ít dầu để trị nhức đầu. Nó cũng được đắp với dầu vừng để trị phù voi. Cây nhọ nồi được dùng làm chất nhuộm để xăm mình. Lá nhọ nồi được dùng làm rau ăn ở Java, và làm gia vị ở một số vùng Ấn Độ.
Nhọ nồi được dùng ngoài làm thuốc sát trùng chữa các vết thương và vết loét ở gia súc.
Nguồn “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở VN” tr 462 tập II.