TRẠCH TẢ

Tên khác: Mã đề nước.
Tên nước khác: Common water platain, mad – dog weed (Anh); alisma, plantain d’eau, fluteau (Pháp).
Họ: Trạch tả (Alismataceae).


Mô tả
Cây thảo, cao 40-50cm. Thân rễ hình cầu hoặc hình con quay, nạc, màu trắng. Lá có cuống dài, bẹ to mọc ốp vào nhau và xòe ra như hình hoa thị, phiến lá hình trái xoan hay hình trứng, mép nguyên lượn sóng, gân lá 5-7 hình cung.
Cụm hoa mọc trên một cán thẳng dài có khi đến 1m thành chùy có nhiều vòng hoa xếp thành tầng nhỏ dần về phía ngọn, mỗi tầng lại phân nhánh thành những chùy nhỏ; hoa lưỡng tính, màu trắng hay hồng, đài có 3 răng màu lục, tồn tại đến khi thành quả; tràng hoa 3 cánh có một cựa màu vàng nhạt rất mỏng và rụng sớm; nhị 6-9, dẹt; bầu nhiều ô xếp thành một vòng, mỗi ô có một noãn, vòi nhụy mảnh dễ rụng.
Quả bế giẹp, dạng màng, có đài tồn tại.
Mùa hoa quả: tháng 10-12.

Bộ phận dùng
Thân rễ thu hoạch vào tháng 4-5 khi cây chuyển sang màu vàng. Loại bỏ rễ con, cạo vỏ ngoài và rửa sạch, phơi hay sấy khô.
Khi dùng, ủ thân rễ cho mềm, thái lát, phơi khô (dùng sống), hoặc tẩm muối (100g trạch tả, với 2g muối ăn hòa trong 60ml nước), sao vàng.

Thành phần hóa học
Thân rễ trạch tả chứa tinh dầu, chất nhựa 7%, protid, tinh bột 23% (Đỗ Tất Lợi 1999).
Cụm hoa có nhiều phytohormon (CA. 125: 190.646 k).
Thân rễ thứ orientale, chứa các triterpen alisol A, alisol A monoacetat, alisol B, alisol B monoacetat, alisol C monoacetat, epi alisol A.
Ngoài ra, trạch tả còn chứa alismol, alisomoxyd, alimalacton 23-acetat, alismaceton - A, β - sitosterol - 3 - O - stearat, tricosan, β - sitosterol, acid stearic, glyceryl - 1 - stearat, daucosterol - 6’ - O - stearat, emodin, alizexol A, các sulfoorientalol a, b, c, d.
Theo Shimizu Noriko và cs, 1994, trạch tả có một glucan gọi làm alisma Si chỉ gồm các đơn vị glucose (CA 122: 281 743 u).
Theo Kimura Hiromi và cs, 1990, alismol và 10-hydroxyalismol chiết xuất từ thân rễ đều có tác dụng trị các rối loạn gan (CA 117: 118.490 x).
Cũng theo Kimura Hiromi và cs, 1990, 16 - cetoalisol A hoặc 13, 17 -epoxyalisol A chiết xuất từ thứ orientale đều có tác dụng trị rối loạn gan
(CA 117: 76.469 q).
Tomoda Masashi và cs, 1994 đã phân lập được một polysaccharid gọi là alisma PH bao gồm L - arabinose, D - galactose, acid D - glucuronic theo tỷ lệ 4: 9: 2 có thêm vài nhóm O - acetyl (CA 121: 99.314 g).
Cũng theo Tomoda Masashi và cs, 1993, thứ orientale còn có một polysaccharid acid gọi là alisma PIII F bao gồm L - arabinose - D - galactose - L - rhamnose - D - acid galaturonic - acid glucuronic theo tỷ lệ 1: 5: 3: 8: 2. (CA 121: 26466 y).

Tác dụng dược lý
1. Tác dụng lợi tiểu: Nước sắc trạch tả với liều 25g/kg cho thẳng vào dạ dày và cao lỏng với liều 2g/kg tiêm xoang bụng trên chuột cống trắng bình thường, thể hiện tác dụng lợi tiểu rõ rệt. Có báo cáo cho rằng trạch tả thu hoạch vào các mùa khác nhau và bộ phận dùng khác nhau thì hiệu quả lợi niệu cũng không giống nhau. Trạch tả thu hoạch vào mùa đông có tác dụng lợi tiểu mạnh, còn thu hoạch vào mùa xuân thì kém hơn. Rễ con trạch tả thu hoạch vào mùa đông có tác dụng lợi tiểu yếu, còn thu hoạch vào mùa xuân thì không có tác dụng. Phương pháp bào chế khác nhau cũng dẫn đến hiệu quả lợi niệu không giống nhau. Trạch tả dùng sống hoặc nướng với rượu đều có tác dụng lợi tiểu, còn trạch tả muối không có tác dụng; Tuy vậy, trong “ngũ linh tán” gồm trạch tả, phục linh, trư linh, bạch truật, quế chi với tỷ lệ 4:3: 3:2:1 thì dùng trạch tả sống hoặc muối đều thể hiện tác dụng lợi tiểu. Người khỏe mạnh uống nước sắc trạch tả thì lượng bài tiết nước tiểu, urê và Na+ tăng, còn trên thỏ uống trạch tả tác dụng rất yếu, nhưng nếu dùng dạng cao lỏng bằng đường tiêm xoang bụng lại có tác dụng lợi tiểu. Tác dụng lợi tiểu của trạch tả có liên quan đến hàm lượng muối kali cao(147,5mg%) tồn tại trong dược liệu.
2. Ảnh hưởng đối với chuyển hóa mỡ: Thí nghiệm trên thỏ gây lipid máu cao, thành phần tan trong dầu của trạch tả trộn với thức ăn hàng ngày với tỷ lệ 0,5% có tác dụng hạ lipid máu và chống xơ vữa động mạch một cách rõ rệt. Trên chuột cống trắng có lipid máu tăng cao thực nghiệm, các chất alisol A và alisol A, B, C monoacetat trộn trong thức ăn hàng ngày với tỷ lệ 0,05-0,1% đều có tác dụng hạ cholesterol máu đạt 50%. Cơ chế làm hạ cholesterol máu của trạch tả chưa được xác định đầy đủ. Thí nghiệm bằng phương pháp đồng vị phóng xạ cho thấy chất alisol A có tác dụng ức chế quá trình ester hóa cholesterol ở ruột non chuột nhắt trắng đồng thời làm giảm tỷ lệ hấp thu cholesterol ở ruột đạt 34%. Trên thỏ có chế độ ăn giàu cholesterol và lipid, trạch tả có tác dụng làm hạ lượng lipid ở gan. Đối với chuột cống trắng có chế độ ăn thiếu protein dẫn đến gan nhiễm mỡ, trạch tả có tác dụng điều trị rõ rệt. Trên lâm sàng ở những bệnh nhân có lipid máu tăng, hàng ngày uống viên trạch tả với liều 4,2g/người, dùng từ 2-4tuần lễ có tác dụng làm hạ cholesterol, β-lipoprotein và triglycerid trong máu. Nước sắc trạch tả thí nghiệm trên chuột cống trắng với liều 20g/kg cho thẳng vào dạ dày dùng trong 7 tuần lễ có tác dụng làm giảm lượng triglycerid trong máu, lượng mỡ ở các tạng phủ và giảm trọng lượng của chuột béo phì do dùng glutamat natri (MSG).
3. Tác dụng chống viêm: Nước sắc trạch tả dùng với liều 20g/kg bằng đường cho thẳng vào dạ dày, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng có tác dụng ức chế sưng phù ở tai chuột do dimethyl – benzen gây nên, đồng thời ức chế sự tăng sinh của tổ chức u hạt ở chuột cống trắng trong nghiệm pháp cấy dưới da viên bông. Trên thỏ gây viêm thận thực nghiệm bằng cách tiêm dưới da nitrat natri, trạch tả làm giảm lượng urê và cholesterol trong máu.
4. Các tác dụng khác: Cao lỏng trạch tả trên chó gây mê, tiêm tĩnh mạch có tác dụng hạ huyết áp. Trên thỏ, cao trạch tả với liều 6g/kg tiêm dưới da, trong vòng 5 ngày giờ sau khi dùng thuốc xuất hiện đường huyết hạ, nhưng nếu dùng nước sắc thì không có tác dụng trên. Thí nghiệm trên ống kính, trạch tả có tác dụng ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao.
Ngoài các tác dụng trê, các alisol A, B, C monoacetat còn có tác dụng bảo vệ gan, chống các tổn thương gan do tetrachlorid carbon gây nên.
Độc tính: Dịch triết bằng methanol của trạch tả, trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm tĩnh mạch và tiêm xoang bụng có LD50 = 0,98g và 1,27g/kg. Thí nghiệm dài ngày cho bột trạch tả vào thức ăn chuột cống trắng với tỷ lệ 1% dùng trong 2 tháng liền không có biểu hiện ngộ độc.

Tính vị, công năng
Trạch tả có vị ngọt, tính hàn, vào 2 kinh thận và bàng quang, có tác dụng lợi thủy, thẩm thấp, thanh nhiệt.

Công dụng
Trong y học cổ truyền, trạch tả được dùng chủ yếu làm thuốc chữa bệnh phù thũng, viêm thận, bể thận, tiểu tiện khó, đái ra máu. Ngoài ra còn chữa nhức đầu, hoa mắt, chóng mặt. Liều dùng hàng ngày 10-20g, dưới dạng nước sắc hoặc hoàn tán. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác.

Nguồn “Cây thuốc và động vật làm thuốc ở VN” tr 984 tập II.
Các bài mới
Các bài cũ